Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Không chỉ là YouTube: Khởi động tiếp thị và bán hàng với video



Tại sao Google không do dự khi bỏ ra 1,6 tỷ USD để mua lại Youtube – trang web chia ẻ video qua mạng? Lý do rất đơn giản. Trừ khi chúng ta thực sự ở trong cùng một căn phòng với ai đó, video luôn là công cụ giao tiếp mạnh mẽ nhất mà chúng ta có được, và YouTube đã đưa giao tiếp video tới tận tay tất cả mọi người qua mạng internet.

Với chức năng này, tính phổ biến của trang web lan toả rộng khắp và các nhà tiếp thị ở mọi nơi cảm thấy hết sức nóng gáy khi nghĩ tới Youtube. Một cảm giác thúc đẩy hành động là hết sức mạnh mẽ.

Nhưng YouTube không là trò chơi duy nhất trong thị trấn.Đối với các nhà tiếp thị nào thực sự quan tâm tới việc sử dụng hiệu quả các giao tiếp video, chìa khoá để thành công là tìm kiếm những công cụ thích hợp.

Bạn có muốn ghi lại một thông điệp video cho những lần xem tuỳ thích? Bạn có muốn thực hiện các đoạn video trực tiếp từ một cuộc họp lớn, cuộc hội thảo hay một sự kiện nào khác? Bạn có muốn nhiều thứ hơn một đoạn video bình thường, chẳng hạn như chat tin nhắn, bầu chọn, Q&A hay các trình diễn dọc theo video của bạn?

Một loạt các công cụ khác nhau trên đầu ngón tay các nhà giao tiếp có thể giúp đỡ hoàn thành rất nhiều công việc khác nhau: các khoá đào tạo tương tác, các trình diễn bán hàng video, các cuộc hội thảo video trực tiếp với kháh hàng, các đoạn voicemail video được ghi lại, và nhiều tiện ích khác nữa.


Các công ty từ nhiều lĩnh vực khác nhau, như sức khoẻ, công nghệ, tài chính, quảng cáo,... đang bắt đầu sử dụng video để hoàn thành các mục tiêu kinh doanh.

Ví dụ, một nhà sản xuất thiết bị y tế tung lên mạng đoạn băng video quay trực tiếp một ca phẫu thuật để tiếp thị cho một thiết bị sử dụng trong phẫu thuật tim. Việc này giúp các bác sỹ phẫu thuật trên toàn thế giới - những khách hàng tiềm năng của nhà sản xuất này - thấy được thiết bị vận hành thực tế ra sao trong một ca phẫu thuật.

Một câu châm ngôn không còn mới mẻ trong tiếp thị ngày nay: Hãy trình diễn, đừng nói.

Nhà sản xuất thiết bị y tế trên cũng bổ sung cho sức mạnh của giao tiếp video bằng việc phối kết hợp một hệ thống tự động quản lý đăng ký người xem, xác nhận và gửi email theo sau cùng những báo cáo thống kê người sử dụng. Qua đây giúp công ty theo dõi và xác định được kết quả của chiến dịch tiếp thị video đã thực hiện.

Vậy con đường đưa video vào các chiến dịch tiếp thị tổng thể được bắt đầu ra sao?

Trước tiên, bạn cần tìm ra một mục tiêu thích hợp cho nó. Sẽ thật vô nghĩa với việc quay một ai đó trước ống kính camera và đọc cuốn sách hướng dẫn về một phần mềm giúp các công ty kiểm soát hàng tồn kho.

Nhưng nếu bạn đến tận văn phòng của khách hàng, giới thiệu các đoạn băng video thú vị quay từ một nhà máy sản xuất với lượng hàng hoá lớn, phỏng vấn những người có thể nói về tầm quan trọng của việc tự động hoá kiểm soát hàng tồn kho cũng như cho thấy nụ cười trên khuôn mặt họ, điều đó mới thực sự ý nghĩa.

Tiếp theo, hãy cẩn thận quan tâm tới những gì bạn phải giới thiệu và cách thức tốt nhất để truyền tải chúng:

- Đối với các trình diễn kinh doanh có thể ghi lại hay trình chiếu trực tiếp cùng với  các slide PowerPoint và nhiều yếu tố giàu chất truyền thông khác, hãy thử những công cụ kiểu như Proclaim.

- Nếu bạn cần một cách thức dễ dàng để đưa video lên mạng internet và chia sẻ nó với người khác, hãy thử những công cụ như YouTube hay Blip.tv.

Bạn nên quan tâm tới việc đăng tải các video của bạn dưới dạng các file video có thể xem được ở nhiều thiết bị khác nhau, từ máy tính, máy điện thoại di động tới iPod. Điều này sẽ giúp đẩy mạnh số lượng người xem video của bạn, thêm vào đó còn cho phép người xem linh hoạt hơn trong việc lưu giữ video vào các thiết bị cá nhân của ho và thưởng thức nó ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ thời điểm nào và theo bất cứ phương thức nào họ thích.

Khi đến thời điểm xây dựng và chỉnh sửa video, bạn sẽ thấy rằng mình khó có đủ khả năng như Steven Spielberg để đảm bảo cho một video hoàn chỉnh. Gary Anderson, CEO của hãng cung cấp dịch vụ webcasting khuyên rằng các nhà tiếp thị nên nhờ đến sự giúp đỡ của các chuyên gia, hay ít nhất là những ai đã từng làm tốt một video clip trước đó.

Một vài lời khuyên tiếp thị video

- Có được độ sáng tốt: Nếu quá tối, video của bạn sẽ mờ và rất khó xem do chất lượng đường truyền hiện nay có chưa được tốt nhất. Đừng đặt tiêu đề của đoạn video ở nơi có ánh sáng quá lớn, như vậy mọi người sẽ không thể nhìn thấy tiêu đề.

- Các nhân vật trong video không nên mặc quần áo sọc: Rất nhiều trường hợp xuất hiện những ảo giác khi chúng ta nhìn một hình ảnh nào đó các vạch đen và trắng ở gần nhau. Đó là những gì một bộ quần áo sọc có thể được nhìn thấy trên ống kính camera.

- Nếu bạn đang nỗ lực lôi kéo mối quan tâm và sự gắn kết của ai đó, hãy khích lệ thật mạnh mẽ. Bạn có thể đưa những giai điệu sôi động làm nhạc nền. Nếu bạn đang kể một câu chuyện gây xúc động, hãy làm chậm mọi thứ và để cảm xúc tuôn trào. Nếu bạn thấy nhàm chán và không quan tâm tới việc xem video của mình, chắc hẳn không một người xem nào có cảm giác khác với bạn.

- Luôn có thể ngắn hơn: Cho dù bạn đang ghi lại một video voicemail hay sản xuất một video có nội dung rõ ràng, đừng để nó kéo dài lê thê. Hãy đặt ra các yêu cầu cụ thể cho mục tiêu và giá trị của từng clip, từng đoạn hay thậm chí từng cảnh. Hãy tôn trọng thời gian và giá trị sự quan tâm của các người xem.

* * *

Không quan tâm tới việc bạn thực hiện những gì với video trực tuyến, đừng quên rằng video chỉ là một phần trong chiến dịch tiếp thị tổng thể, chứ không phải dự án đứng một mình.

Hãy nghĩ về cách thức video sẽ khích lệ mọi người ghé thăm một trang web, gọi điện cho một nhân viên bán hàng, yêu cầu thêm các thông tin, hay tiến hành một vài hành động nào đó mà bạn có thể dự tính và qua đó góp phần vào thành công chung của các mục tiêu tiếp thị và bán hàng.

7P trong Marketing




Marketing trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P. Những nỗ lực Marketing sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này.
Một khi bạn đã xây dựng xong chiến lược Marketing, công thức 7P nên được sử dụng để liên tục đánh giá và tái đánh giá các hoạt động kinh doanh của bạn. 7P đó là Product (Sản phẩm), Price (Giá), Promotion (Chiêu thị), Place (Phân phối), Packaging (Đóng gói), Positioning (Định vị) và People (Con người).
Trong bối cảnh các sản phẩm, thị trường, khách hàng và nhu cầu thay đổi nhanh chóng, bạn sẽ phải không ngừng quan tâm tới 7 chữ P này để chắc chắn rằng bạn vẫn đi đúng con đường và đạt được những kết quả tốt nhất có thể cho doanh nghiệp trên thị trường.
1) Product – Sản phẩm
Để bắt đầu, bạn hãy tạo dựng thói quen nhìn vào các sản phẩm của bạn như thể bạn là một nhà tư vấn Marketing bên ngoài được công ty thuê để giúp đỡ quyết định xem nên hay không nên đưa nó ra thị trường vào thời điểm này. Có nhiều câu hỏi quan trọng cần đặt ra, chẳng hạn như: Sản phẩm hay dịch vụ hiện tại có tương thích và phù hợp với thị trường và với các khách hàng ngày nay?
Những thói quen đánh giá sản phẩm hay dịch vụ một cách chân thực và tự hỏi: Đó có phải là những sản phẩm hay dịch vụ thích hợp với các khách hàng của mình?” là rất quan trọng.
Hãy so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm hay dịch vụ của bạn có vượt trội ở một vài phương diện nào đó? Nếu có, đó là cái gì? Còn nếu không, bạn có thể xây dựng cho sản phẩm hay dịch vụ những vượt trội như thế? Bạn có nên đưa ra sản phẩm hay dịch vụ này trong thị trường hiện tại?
2) Prices – Giá 
Chữ P thứ hai đó là Price – Giá. Hãy phát triển thói quen thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm và dịch vụ bạn đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại. Đôi lúc bạn có thể cần giảm giá các sản phẩm, dịch vụ.
Nhiều doanh nghiệp thấy rằng lợi nhuận của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó không có sự tương đồng với các công sức và nguồn lực bỏ ra để sản xuất chúng. Bằng việc nâng giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ % khách hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng. Điều này có thích hợp với bạn?
Đôi lúc bạn cần thay đổi các điều khoản và điều kiện bán hàng. Đôi lúc bằng việc kéo giãn mức giá của bạn trong một vài tháng hay một vài năm, bạn có thể bán được nhiều hàng hơn. Đôi lúc bạn có thể phối kết hợp sản phẩm và dịch vụ cùng với nhau để có các chào hàng hay các xúc tiến đặc biệt. Đôi lúc bạn có thể đưa vào một hai khuyến mãi nhỏ nào đó mà ít tốn kém chi phí song khiến mức giá của bạn hấp dẫn hơn đối với các khách hàng.
Trong kinh doanh, đúng như bản chất của nó, bất cứ khi nào bạn thấy được một sự kháng cự hay thất vọng đối với bất cứ phần nào của các hoạt đông bán hàng hay Marketing, hãy sẵn sàng xem xét lại bộ phận đó. Hãy sẵn sàng với khả năng rằng cấu trúc giá cả hiện tại của bạn có thể chưa thích hợp với thị trường trong cùng thời điểm. Hãy sẵn sàng với nhu cầu đánh giá lại các mức giá nhằm duy trì tính cạnh tranh, sống sót và tăng trưởng trong một thị trường thay đổi nhanh chóng.
3) Promotion – Chiêu thị
Thói quen thứ ba trong Marketing và bán hàng đó là suy nghĩ về việc quảng bá sản phẩm. Quảng bá sản phẩm bao gồm tất cả các cách thức bạn có thể nói với khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ của bạn và làm thế nào bạn có thể Marketing và bán chúng.
Những thay đổi nhỏ trong cách thức bạn quảng bá và bán sản phẩm, dịch vụ có thể dẫn tới những thay đổi lớn trong kết quả kinh doanh. Thậm chí cả những thay đổi nhỏ trong quảng cáo cũng có thể dẫn ngay tới doanh số bán hàng cao hơn. Các copywriter giàu kinh nghiệm có thể gia tăng tỷ lệ phản hồi của các quảng cáo lên tới 500% bằng đôi chút chỉnh sửa tiêu đề trên quảng cáo.
Các doanh nghiệp lớn và nhỏ không ngừng nghỉ thử nghiệm các cách thức khác nhau để quảng cáo và bán sản phẩm hay dịch vụ của họ. Và đây là quy tắc: Sớm hay muộn, bất cứ phương pháp Marketing hay bán hàng nào bạn đang sử dụng ngày nay sẽ ngừng hiệu quả. Đôi lúc nó không còn hiệu quả vì một vài lý do bạn biết và đôi lúc vì một vài lý do bạn không biết. Trong mọi trường hợp, các phương pháp Marketing và bán hàng của bạn cuối cùng sẽ không còn hiệu quả nữa, và bạn sẽ phải tạo dựng những chiến lược, chào mời và phương pháp Marketing, bán hàng và quảng cáo mới.
4) Place – Phân phối 
Chữ P thứ tư trong Công thức Marketing 7P đó là cách thức phân phối/kênh phân phối sản phẩm hay dịch vụ. Hãy phát triển thói quen xem xét và suy nghĩ kỹ lưỡng về kênh phân phối, nơi các khách hàng gặp gỡ nhân viên bán hàng. Đôi lúc sự thay đổi trong kênh phân phối sẽ dẫn tới kết quả tăng trưởng doanh số bán hàng mạnh mẽ.
Bạn có thể bán sản phẩm của mình tại nhiều kênh phân phối khác nhau. Một vài công ty sử dụng cách thức bán hàng trực tiếp, cử các nhân viên bán hàng ra ngoài để tiếp xúc cá nhân và nói chuyện trực tiếp với các khách hàng. Một vài công ty sử dụng Marketing từ xa. Một vài công ty bán hàng qua catalogue hay thư đặt hàng. Một vài công ty bán hàng tại các hội trợ hay địa điểm bán lẻ. Một vài công ty bán hàng trong mối liên minh với các sản phẩm hay dịch vụ tương tự. Một vài công ty sử dụng các đại diện bán hàng hay các nhà phân phối đại lý. Và nhiều công ty kết hợp sử dụng một vài trong số các cách thức bán hàng trên.
Trong mỗi trường hợp, bạn phải có được lựa chọn thích hợp về cách thức phân phối thích hợp nhất cho các khách hàng để nhận những thông tin mua sắm thiết yếu về sản phẩm hay dịch vụ cần thiết cho những quyết định mua sắm. Kênh phân phối của bạn là gì? Bạn cần thay đổi những gì? Nơi nào khác bạn có thể giới thiệu các sản phẩm hay dịch vụ của mình?
5) Packaging – Đóng gói 
Chữ P thứ năm trong Công thức Marketing 7P đó là Packaging – Đóng gói. Hãy phát triển thói quen đứng đằng sau và nhìn vào từng yếu tố hình ảnh trong bao bì đóng gói sản phẩm hay dịch vụ của bạn thông qua con mắt của những khách hàng tiềm năng quan trọng. Bạn cần nhớ rằng mọi người định hình nên ấn tượng đầu tiên của họ về bạn trong vòng 30 giây đầu tiên khi nhìn thấy bạn hay thấy một vài yếu tố nào đó của doanh nghiệp. Những cải thiện nhỏ trong đóng gói hay bao bì bên ngoài sản phẩm hay dịch vụ có thể dẫn tới những phản ứng hoàn toàn khác biệt từ các khách hàng.
Đối với đóng gói và bao bì sản phẩm hay dịch vụ, bạn nên suy nghĩ tới tất cả các yếu tố mà các khách hàng nhìn thấy đầu tiên trong các giao tiếp với công ty bạn theo tất cả các cách thức khác nhau thông qua quy trình mua sắm.
Đóng gói liên quan tới hình thức bên ngoài của sản phẩm hay dịch vụ của bạn Ngoài ra, đóng gói liên quan tới các nhân viên của bạn và cách thức họ ăn mặc. Nó cũng liên quan tới văn phòng làm việc của bạn, tới phòng đợi của doanh nghiệp bạn, tới các tài liệu Marketing và tới từng giao tiếp hình ảnh về công ty bạn. Tất cả mọi thứ cần được đưa vào. Tất cả mọi thứ sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực. Và tất cả mọi thứ tác động tới sự tin tưởng của các khách hàng trong giao dịch với bạn.
Khi IBM bắt đầu kinh doanh dưới sự dẫn dắt của Thomas J. Watson, ông đã thấy rằng 99% hình ảnh về công ty mà một khách hàng thấy được là thông qua các nhân viên bán hàng của IBM. Do IBM bán những sản phẩm công nghệ cao, Watson biết các khách hàng sẽ phải có một độ tin cậy lớn khi tiếp xúc với các nhân viên bán hàng. Vì thế, ông xây dựng các chính sách ăn mặc và giao tiếp mà sau này trở thành các quy định không thể thay đổi tại IBM.
Kết quả là từng nhân viên bán hàng được yêu cầu phải trông như những chuyên gia ở mọi khía cạnh. Từng yếu tố trong quần áo của họ (bao gồm bộ vest đen, cà vạt đen, áo sơ mi trắng, tóc chải ngay ngắn, giầy đánh bóng, móng tay sạch sẽ) và nhiều đặc điểm khác đã tạo dựng một hình ảnh về tính chuyên nghiệp và có năng lực. Một trong những lời tán thưởng cao nhất mà một người có thể nhận được đó là: “Bạn trông như ai đó ở IBM”.
6) Positioning – Định vị 
Chữ P tiếp theo đó Positioning – Định vị. Bạn nên phát triển thói quen suy nghĩ về cách thức bạn được định vị trong trái tim và tâm trí các khách hàng của bạn. Mọi người suy nghĩ và nói về bạn như thế nào khi bạn không có mặt? Mọi người suy nghĩ và nói về công ty bạn như thế nào? Sự định vị nào bạn có trong thị trường của bạn, về các từ ngữ cụ thể mọi người sử dụng khi họ miêu tả về bạn và về những chào hàng của bạn tới họ?
Hai tác giả Al Reis và Jack Trout trong cuốn sách nổi tiếng của mình là Positioning – Định vị đã chỉ ra rằng những suy nghĩ và nhìn nhận của các khách hàng về bạn là nhân tố quyết định thành công trong một thị trường cạnh tranh.
Học thuyết Đặc tính nói rằng hầu hết các khách hàng nhìn nhận về bạn theo một cách thức đơn lẻ khác nhau, tích cực hay tiêu cực. Đôi lúc đó là “dịch vụ”. Đôi lúc đó là “xuất sắc”. Đôi lúc đó là “máy móc chất lượng” như đối với Mercedes Benz. Đôi lúc đó là “động cơ lái tột bực” như đối với BMW.
Trong mọi trường hợp, mức độ những đặc tính này được in đậm và sâu trong tâm trí các khách hàng sẽ quyết định khả năng họ mua sắm sản phẩm hay dịch vụ của bạn, đồng thời quyết định họ sẽ mua bao nhiêu.
Hãy phát triển thói quen suy nghĩ về cách thức bạn có thể cải thiện mức độ định vụ của mình. Hãy bắt đầu bằng việc xác định vị thế mà bạn thích có. Nếu bạn có thể tạo dựng được ấn tượng thích hợp trong trái tim và tâm trí các khách hàng, nó sẽ là gì? Bạn sẽ cần phải làm những gì trong từng giao tiếp với các khách hàng để các khách hàng suy nghĩ và nói về bạn đúng với cách thức bạn muốn? Những thay đổi nào bạn sẽ cần tới trong lối giao tiếp với khách hàng ngày nay để được nhìn nhận là sự lựa chọn mua sắm tốt nhất?
7) People – Con người 
Chữ P cuối cùng đó là People – Con người. Bạn hãy phát triển thói quen suy nghĩ về những con người bên trong và bên ngoài của bạn vốn chịu trách nhiệm cho từng yếu tố trong các chiến lược và hoạt động Marketing hay bán hàng.
Thật ngạc nhiên khi rất nhiều chủ doanh nghiệp hay các doanh nhân dành quá nhiều thời gian nghĩ về từng yếu tố của các chiến lược Marketing mà có ít sự quan tâm tới thực tế rằng mỗi một quyết định và chính sách được hiện bởi những con người cụ thể theo những cách thức cụ thể. Khả năng lựa chọn, tuyển dụng và giữ chân những con người thích hợp với những năng lực và kỹ năng tốt để hoàn thành công việc được giao phó là rất quan trọng.
Trong cuốn sách best-selling của mình, Good to Great – Từ tốt tới vĩ đại, tác giả Jim Collins khám phá ra rằng yếu tố quan trọng nhất được áp dụng bởi các công ty tốt nhất đó là họ luôn đưa được những con người tốt nhất lên xe và đưa những con người kém cỏi ra khỏi xe. Một khi các công ty này tuyển dụng được những nhân viên thích hợp, bước thứ hai đó là đặt những con người thích hợp đó vào những chiếc ghế thích hợp trên xe.
Để thành công trong kinh doanh, bạn phải phát triển được thói quen suy nghĩ về chính xác những ai sẽ thực hiện từng nhiệm vụ và trách nhiệm. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp sẽ chưa thể tiến lên cho đến khi bạn có thể thu hút và đặt những con người thích hợp vào những vị trí thích hợp. Không ít các kế hoạch kinh doanh tốt nhất được xây dựng song rồi bị bỏ vào ngăn bàn chỉ vì người xây dựng ra chúng không thể tìm kiếm những con người có khả năng thực thi thành công kế hoạch.

Thông thường 4P cơ bản sẽ vẫn là Product , Price , Place và Promotion. Tùy vào ngành nghề cũng như chiến lược Marketing của từng công ty mà ta sẽ phát triển các P khác nhau, có thể là People (Con người), Packaging (Đóng gói), Positioning (Định vị), Policy (Chính sách), Progress (Quá trình), Physical Evidence (cơ sở vật chất),PR (Quan hệ công chúng)…hoặc có khi sử dụng Philosophy (Triết lý kinh doanh). Tuỳ từng trường hợp cụ thể để có cách tiếp cận hợp lý hơn.
__________________

Các chiến lược cho việc xây dựng thương hiệu mạnh – Thậm chí cả trong tình trạng suy thoái kinh tế





Với việc lập kế hoạch và đưa ra quyết định mục tiêu thận trọng, việc phát triển thương hiệu đứng vững được trong lĩnh vực của nó là điều hoàn toàn có thể - cho dù, những đám mây của tình trạng suy thoái kinh tế đang bao trùm khắp nơi. Việc chọn những kiểu tên gọi cũng như đưa ra quá trình ứng dụng thương hiệu đó hợp lý ngay từ đầu chính là hai yếu tố quan trọng đối với một chiến lược thành công.Vì vậy, chẳng có bí quyết gì để “liệu pháp bán lẻ” – dù ở hình thức mua hàng ở cửa hàng quần áo của nhà thiết kế, lướt vào trang web của nhà bán lẻ trực tuyến hoặc thậm chí mua sắm ngay một sản phẩm dầu gội đầu của một nhãn hiệu được ưa thích trong một cửa hàng tạp hóa –  có thể gợi lên những cảm giác về sự vui sướng và an tâm. Một nghiên cứu mới đây về sự quyến rũ do Martin Lindstrom, chuyên viên có tiếng về tiếp thị, thực hiện chỉ cho thấy rằng não bộ thực sự tiếp nhận được cảm xúc dâng lên từ kinh nghiệm cũng như cảm xúc đó sẽ trở nên mãnh liệt hơn khi những người tiêu dùng tiếp xúc với cái được gọi là những thương hiệu “mạnh”.

Trong cuốn sách mới của mình, Buy-ology – Truth and Lies About Why We Buy, Lindstrom đã trình bày cụ thể kết quả kích thích sự tò mò trong ba năm, một kết quả nghiên cứu trị giá 7 triệu đô-la mà nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành thực hiện trên hình ảnh chụp được của 2000 người qua phương pháp Chụp Cộng hưởng Từ Chức năng (functional Magnetic Resonance Imaging – fMRI) nhằm xác định xem các não bộ của người tiêu dùng phản ứng với những tác nhân kích thích bao gồm từ lô-gô tới hình ảnh mang tính tôn giáo ra sao. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng khi mọi người xem xét các thương hiệu mạnh – chẳng hạn như những cái được kết hợp cùng với iPod, Harley Davidson, Ferrari hay những cái khác nữa – thì não bộ của họ đều ghi nhớ lại các trạng thái gắn kết cảm xúc ở những khu vực tương tự như khi ngắm nhìn những hình ảnh mang tính tôn giáo. Tuy nhiên, khi nhìn vào những thương hiệu yếu hơn, những khu vực hoàn toàn khác nhau của não bộ bị kích hoạt song tín hiệu yếu hơn, cho thấy rằng những thương hiệu yếu không gợi lên được sự phản ứng cùng cảm xúc như đối với các thương hiệu mạnh.
Lindstrom giải thích rằng những cảm xúc đó chính là cách mà não bộ của chúng ta mã hóa những thứ có giá trị, qua đó lý giải rằng các thương hiệu phù hợp được với người tiêu dùng về mặt cảm xúc sẽ “luôn trường tồn được qua mọi thời điểm”. Vì vậy, làm sao các công ty có thể tạo ra những thương hiệu mạnh như vậy qua các thời kỳ của những nguồn kinh tế bị giới hạn?


Điều gì khiến cho thương hiệu “mạnh”?


Trên phương diện về triển vọng tiếp thị, những thương hiệu được coi là “mạnh” có thể được định nghĩa như những thương hiệu có được sự công nhận, tin cậy và trung thành của người tiêu dùng trên diện rộng. Còn trên phương diện về triển vọng pháp luật, các thương hiệu mạnh là những thương hiệu có khả năng được bảo vệ thông qua đăng ký thương hiệu cũng như đủ khả năng thi hành chống lại các bên thứ ba – những người có thể mong thu được lợi ích từ khách hàng đã quen thuộc với các thương hiệu đó.
Nhờ việc nắm bắt được một số bước đơn giản này ngay từ khi bắt đầu quá trình xây dựng thương hiệu mà các công ty có thể đảm bảo rằng những thương hiệu mới đều có tiềm năng trở thành những thương hiệu mạnh. 
Lựa chọn những tên gọi nhãn hiệu vốn thể hiện được sự mạnh mẽ cũng như được bảo vệ


Khi chọn lựa tên gọi nhãn hiệu mới, các công ty cần cân nhắc những kiểu đăng ký thương hiệu vốn được xem xét để có thể đủ khả năng bảo vệ cũng như đăng ký. Những thương hiệu này thuộc một chuỗi các nhãn hiệu khác nhau mà qua đó xác định được mức độ bảo vệ cho từng cái:
Nhãn hiệu tài chính bao gồm những từ ngữ hoặc biểu tượng được phát minh duy nhất cho mục đích phục vụ như một thương hiệu. Chúng là những thương hiệu cực kỳ mạnh mà có thể được bảo vệ và đăng ký ngay lập tức cũng như được hưởng quyền bảo vệ có giá trị trên phạm vi rộng nhất.
Nhãn hiệu độc quyền bao gồm những từ ngữ hoặc cụm từ theo cách sử dụng ngôn ngữ thông thường mà không miêu tả hay đề xuất bất kỳ đặc tính nào của sản phẩm hoặc dịch vụ mà được người tiêu dùng sử dụng. Đây là những thương hiệu được bảo vệ và đăng ký ngay lập tức cũng như được hưởng quyền bảo vệ trên một phạm vi rộng.
Nhãn hiệu gợi ý đòi hỏi người tiêu dùng phải quen với ý tưởng hoặc hình tượng để xác định được bản chất của dịch vụ hoặc sản phẩm có sử dụng nhãn hiệu đó. Những nhãn hiệu này không miêu tả ngay bất kỳ đặc tính, thành phần, chức năng hoặc đặc điểm nào khác của sản phẩm hoặc dịch vụ, mà chủ yếu là chỉ gợi ý hay ám chỉ tới một hoặc nhiều đặc điểm của sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Mặc dù không mạnh như các nhãn hiệu tài chính hay độc quyền, các nhãn hiệu gợi ý cũng được bảo vệ và đăng ký ngay lập tức.
Nhãn hiệu mô tả miêu tả ngay lập tức đặc tính, thành phần, chức năng, kết quả mong muốn hoặc đặc điểm khác của sản phẩm hay dịch vụ mà nhãn hiệu đó được dùng tới. Bộ luật cho rằng những từ ngữ miêu tả đó phải có giá trị đối với tất cả người tiêu dùng nhằm miêu tả các sản phẩm và dịch vụ một cách rõ ràng và phù hợp đối với cộng đồng. Do đó, các nhãn hiệu mô tả không được bảo vệ ngay lập tức. Chúng có thể được bảo vệ chỉ khi người sở hữu thương hiệu có thể chứng mình rằng nhãn hiệu đó vừa đạt được sự khác biệt trên thị trường.
Các từ ngữ chung – những tên gọi phổ biến của sản phẩm (ví dụ như “máy vi tính”, “bánh mỳ”, “xe ô tô”, “xà phòng”) – không đủ khả năng về mặt chức năng được xem như các thương hiệu trong bất kỳ trường hợp nào.
Các công ty nên chọn những tên gọi nhãn hiệu mới là tài chính, độc quyền hoặc gợi ý. Tuy nhiên, vẫn có thể lựa chọn những nhãn hiệu mô tả nếu các công ty muốn miêu tả ngay lập tức bản chất của sản phẩm hoặc dịch vụ, và những thương hiệu như vậy có thể đòi hỏi nỗ lực cùng chi phí nhiều hơn để tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh cũng như ít có khả năng trở thành những thương hiệu mạnh.
Lập kế hoạch trước


Một trong những cách dễ nhất cho các công ty đảm bảo được rằng thương hiệu của mình có tiềm năng trở thành “mạnh” chính là phải lựa chọn những thương hiệu mới ngay từ đầu cho chu trình phát triển sản phẩm. Và khi tên thương hiệu càng được lựa chọn sớm bao nhiêu thì thời gian mà bộ phận tiếp thị cần có để tập trung vào các chiến lược quảng bá cho tên gọi mới đó về mặt khái niệm càng nhiều bấy nhiêu cũng như bộ phận pháp lý có nhiều thời gian hơn để thực hiện các thủ tục đăng ký thương mại cần thiết và thực thi các chiến lược đã được đề ra.
Việc lựa chọn tên thương hiệu quá muộn trong chu trình này thường tạo ra sự không khớp nhau giữa các bộ phận tiếp thị và pháp lý như kiểu khi bộ phận tiếp thị được ủy quyền đưa sản phẩm ra thị trường thì không thèm đếm xỉa tới trách nhiệm đi đăng ký thương hiệu để cho nó được hợp lệ của bộ phận pháp lý.
Chọn những tên gọi thay đổi cho nhau


Thông thường, các công ty lựa chọn những tên gọi thương hiệu vì lý do cảm xúc mà bỏ qua lời khuyên của các chuyên gia về thương hiệu về tính được bảo vệ và đăng ký của tên thương hiệu được yêu thích.
Nhờ lập kế hoạch trước và đưa ra một số tên gọi thay đổi cho nhau mà các công ty có thể đảm bảo rằng mình có kế hoạch dự phòng trong trường hợp tên gọi ban đầu được chứng minh không thể được bảo vệ hoặc không hợp lệ.
Các chiến lược tiếp thị thương hiệu mạnh


Một cách để tạo ra sự khác biệt đối với những lời mời chào của công ty bạn trong suốt thời kỳ kinh tế suy thoái chính là kết hợp sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn với những thương hiệu được gọi là phi truyền thống chẳng hạn như trang phục thương mại (hình dạng của sản phẩm, phong cách và cảm giác về một trang web hoặc thậm chí là nội thất của một cửa hàng), mùi vị và màu sắc.
Đặc biệt hơn là Lindstrom khám phá thấy rằng người tiêu dùng phản ứng mạnh mẽ trước những thương hiệu phi truyền thống, đồng thời, việc sử dụng những kiểu thương hiệu đó thậm chí có thể tạo ra sức mạnh của thương hiệu cũng như lòng trung thành với sản phẩm lớn hơn so với các lô-gô hay tên thương hiệu truyền thống. Những thương hiệu phi truyền thống như vậy có thể cũng có giá trị đối với việc đăng ký thương hiệu, điều cải thiện được khả năng của người chủ thương hiệu nhằm ngăn chặn những người khác khỏi việc sử dụng các thiết kế tương tự dễ gây nhầm lẫn.
Đầu tư vào sự bảo vệ có mục tiêu


Cho dù ngân sách có thể hạn hẹp nhưng giờ không phải lúc để tiết kiệm đối với việc  đăng ký thương hiệu. Nếu bạn lên kế hoạch để tung ra một sản phẩm hoặc dịch vụ mang tính quốc tế thì hãy đảm bảo được việc thực thi các áp dụng thương hiệu ở những quốc gia mà bạn đã có kế hoạch tiến hành kinh doanh ở đó. Không như ở nước Mỹ, nơi các quyền đều bắt nguồn từ việc sử dụng, hầu hết các nước khác đều chấp nhận sự bảo vệ thương hiệu dựa trên hệ thống “đệ trình trước”. Việc thất bại trong bảo vệ thương hiệu ở những nước như vậy có thể gây tốn chi phí chẳng hạn như phải thay đổi lại thương hiệu muộn hơn trong chu trình sống của sản phẩm, thanh toán cho những khoản vi phạm quyền đăng ký thương hiệu quốc tế hoặc làm suy yếu thương hiệu chỉ vì sự sử dụng và đăng ký bởi những kẻ vi phạm.
Đối với các nhà tiếp thị trong thời kỳ suy thoái kinh tế, kết quả nghiên cứu của Lindstrom đề xuất ra những cơ hội khá thú vị. Tiếp thị trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế đều có tiềm năng tạo ra được ảnh hưởng lớn đến với các khách hàng hiện có cũng như tiềm năng do cung cấp được cơ hội cho thông điệp của công ty bạn đứng vững hơn trong thời điểm ít bị xáo trộn mạnh bởi các đối thủ cạnh tranh. Nhờ việc lựa chọn những tên gọi thương hiệu có sức mạnh, dành thời gian cho sự lựa chọn thương hiệu và quá trình đăng ký nghiêm túc cũng như cân nhắc việc sử dụng những thương hiệu phi truyền thống mà các công ty có thể thiết lập được nền tảng cho việc tạo ra những thương hiệu mạnh mẽ và dễ nhớ đối với người tiêu dùng.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012


Ba màn hình “giết chết” marketing truyền thống?

Mang xa hoi Ba màn hình giết chết marketing truyền thống?Mạng xã hội đang làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng và cách thức làm marketing của các doanh nghiệp. Kỷ nguyên làm marketing truyền thống đang được thay thế dần bởi “marketing số hóa” với những công cụ mới được hỗ trợ từ sự phát triển của Internet.
Đó là những nhận định của GS.TS George E.Belch trong buổi Hội thảo “Marketing tích hợp trong kỷ nguyên mới”, do Khoa Marketing – ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội tổ chức mới đây.
Ông là chuyên gia tư vấn hàng đầu về chiến lược và lập kế hoạch marketing, quảng cáo và truyền thông marketing tích hợp (IMC) cho các tập đoàn lớn như Whirlpool, Xerox, Intuit…, GS.TS George E.Belch, Trưởng khoa Marketing Trường Đại học San Diego, Mỹ.
Ông đã có một tuần nói chuyện với các doanh nghiệp Việt Nam nhằm giới thiệu những vấn đề mới, cốt yếu trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình truyền thông tích hợp (IMC), phân tích sự thay đổi có tính chất cách mạng về bản chất và vai trò của marketing trong kỷ nguyên mới.
Mạng xã hội “vươn vai”
Theo GS. George E.Belch, cách thức sử dụng phương tiện truyền thông của người tiêu dùng đang thay đổi mạnh mẽ. Nhà nghiên cứu cho rằng người tiêu dùng ngày càng dành ít thời gian hơn cho các phương tiện truyền thông truyền thống. Vì vậy, ảnh hưởng của quảng cáo đại chúng đến người tiêu dùng ngày càng giảm.
Truyền thông xã hội đang trở thành một công cụ truyền thông marketing tích hợp quan trọng khi mà việc sử dụng mạng xã hội đang gia tăng mạnh trên phạm vi toàn thế giới.
Trang mạng xã hội Facebook tính đến nay mới 5 năm hoạt động nhưng đã có một mạng lưới gần 600 triệu người sử dụng trên toàn thế giới, riêng tại Mỹ đã có 120 triệu người sử dụng. Trong số đó, hơn 50% người truy cập Facebook hàng ngày và 41% trong số họ là những người giới thiệu sản phẩm ưa thích đến với bạn bè.
Số liệu thống kê của mạng xã hội cũng cho thấy có khoảng một triệu doanh nghiệp có hồ sơ trên Facebook và số lượng các doanh nghiệp tham gia trang mạng xã hội này vẫn tiếp tục tăng khi các doanh nghiệp tham gia Facebook trong năm 2010 đã gấp đôi số các doanh nghiệp năm 2009 có mặt trên trang mạng này.
Chi phí quảng cáo dành cho các phương tiện truyền thông xã hội ở Mỹ cũng tăng gấp 4 lần từ năm 2006 lên năm 2010, với doanh số hơn 4,2 tỷ USD trong năm 2010.
Những con số này cho thấy có sự thay đổi lớn trong vai trò của marketing hiện đại. Người làm marketing đang chú trọng nhiều hơn tới sự gắn kết khách hàng và tìm kiếm những cách thức để khách hàng gắn bó hơn với công ty hoặc thương hiệu của họ. Các công ty cũng ngày càng quan tâm tìm kiếm phương thức đo lường ảnh hưởng của các chương trình marketing tích hợp (IMC) một cách hiệu quả hơn.
Ba màn hình quan trọng
GS. George E.Belch chỉ ra 3 loại màn hình đang trở nên quan trọng với người tiêu dùng đó là ti vi, máy tính cá nhân và thiết bị di động. Người tiêu dùng có xu hướng truy cập Internet bằng điện thoại di động nhiều hơn là bằng máy tính. Chính vì vậy, marketing di động đang ngày càng quan trọng và mở ra nhiều triển vọng đối với công tác làm marketing của các doanh nghiệp.
Với các công cụ hỗ trợ từ kỹ thuật số, các doanh nghiệp có thể tác động đến hành vi người tiêu dùng dễ dàng hơn và hiệu quả hơn. Mọi người sử dụng công nghệ trực tuyến để chia sẻ nội dung, ý kiến, kinh nghiệm, quan điểm và truyền thông chính bản thân họ. Hơn nữa, chính người tiêu dùng còn sáng tạo, truyền bá và sử dụng phương thức truyền thông xã hội để giới thiệu về sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ, con người và các vấn đề xã hội.
Không những vậy, cách thức sử dụng phương tiện truyền thông xã hội còn cho phép các doanh nghiệp giao tiếp với khách hàng theo cách khách hàng của họ ưa thích. Để gắn kết với khách hàng doanh nghiệp thường sử dụng một số phương pháp như tổ chức các cuộc thi, bình chọn trực tuyến, game trực tuyến, đề xuất ý tưởng…cho phép người tiêu dùng biết được người khác sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ như thế nào.
Như một số khách sạn vẫn thường gửi thư điện tử cho các khách hàng đã đến nghỉ ở khách sạn để nhận xét, đánh giá về chất lượng dịch vụ và đưa những nhận xét đó lên website của mình để chứng minh sự công khai, minh bạch một trong chỉ tiêu đánh giá chất lượng của khách sạn.
Ngoài ra, phương pháp này còn giúp khách hàng tương tác với những khách hàng khác cũng như với đại diện của công ty từ đó có những hỗ trợ thiết thực cho khách hàng. Đối với các nhà làm marketing đây là một phương thức tuyệt vời để định hướng vào khách hàng mục tiêu.
Hiện ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn, tên tuổi sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ mới của mình. Tại World Cup 2010 tổ chức ở Nam Phi, hãng Nike đã xây dựng một chương trình quảng cáo 3 phút trên Facebook. Kết quả là ngay tại thời điểm đó đã có 3 triệu khách hàng quan tâm đến chương trình này của Nike tạo ra hiệu ứng lan chuyền lớn. Hay như hãng Ford cũng vừa giới thiệu dòng xe Fiesta Movement của hãng này thông qua các trang mạng xã hội.
Trao đổi với các doanh nghiệp Việt Nam, giáo sư George E.Belch nhận xét cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trẻ tuổi sẽ có lợi thế trong việc tiếp cận với các công cụ truyền thông kỹ thuật số. Họ sẽ là những nhà lãnh đạo của kỷ nguyên cách mạng truyền thông, do đó các dịch vụ marketing sẽ phát triển hơn khi thị trường có nhiều người trẻ tuổi nắm được truyền thông số và tham gia các mạng xã hội ngày một nhiều hơn.

Tỷ Lệ Dùng Internet Tại VN Vượt Nghe Đài Và Xem Báo In



Tỷ Lệ Người Sử Dụng Internet Đã Vượt Qua Mặt Báo In Chứng Tỏ Digital Marketing Sẽ Ngày Càng Phát Triển Mạnh Mẽ. Điều Này Sẽ Thúc Đẩy Các DN Việt Nam Phải Dần Thay Đổi Tư Duy Marketing Truyền Thống Và Chuyển Dần Sang Kênh Truyền Thông Mới:Digital Marketing

Theo Kết Quả Nghiên Cứu Net Index 2011 Vừa Được Công Bố, Internet Đã Vượt Qua Radio Và Báo Giấy Để Trở Thành Phương Tiện Thông Tin Được Sử Dụng Hàng Ngày Phổ Biến Nhất Tại Việt Nam, Với Tỷ Lệ 42%.

E-mail và Messenger vẫn là phương tiện kết nối trực tuyến thông dụng. Đọc tin tức trên mạng là hoạt động trực tuyến phổ biến nhất chiếm 97%, tiếp sau là truy cập vào các cổng thông tin điện tử với tỷ lệ gần 96% người tham gia. Số người sử dụng Internet để truy cập vào các trang mạng xã hội đã tăng từ 41% năm 2010 lên 55% năm 2011.

Người sử dụng Internet ở độ tuổi từ 15 đến 24 quan tâm chủ yếu đến nội dung giải trí, đặc biệt là game trực tuyến (38%), nhạc trong nước (57%) và thể thao (39%). Bên cạnh đó, giới trẻ cũng sử dụng Internet để cập nhật thông tin trên trang mạng xã hội (52%), xem video và hình ảnh thú vị trên mạng (45%).

Internet Vietnam

Tỷ lệ truy cập tại gia đình tăng từ 75% (2010) lên 88% (2011), trong khi đó tỷ lệ truy cập từ Internet cà phê đã giảm từ 42% năm ngoái xuống còn 36% trong năm nay. Những gói cước hấp dẫn cùng với sự hiện diện của công nghệ 3G ở Việt Nam đang đẩy mạnh xu hướng truy cập bằng điện thoại di động (30%).

Số lượng người truy cập từ điện thoại di động đang tăng trưởng mạnh tại các thành phố như Đà Nẵng (tăng từ 26% năm 2010 lên 46% năm 2011) và Cần Thơ (tăng từ 25% lên 61% ). Các thiết bị di động đáp ứng nhu cầu kết nối liên tục và cập nhật thông tin tức thời của người dùng đến các trang mạng xã hội (15%).

Nhưng người dùng vẫn chưa thật sự tin tưởng vào sự an toàn của việc thanh toán trực tuyến. Kết quả cho thấy, giao dịch trực tuyến chủ yếu được thanh toán bằng tiền mặt (93%) và chuyển khoản ATM (18%).

Người dùng chủ yếu sử dụng Internet để so sánh và tìm hiểu thông tin về sản phẩm hơn là để thanh toán trực tuyến (18%). Tuy nhiên, hình thức thanh toán trực tuyến cũng có rất nhiều tiềm năng để phát triển.

Thời gian gần đây, mua hàng theo nhóm đang trở thành một hiện tượng và mức độ nhận biết về hình thức này là khá cao (58%). Tuy vậy mức độ quan tâm và sử dụng thì vẫn còn hạn chế (13%).

Nghiên cứu Net Index 2011 được Yahoo và Kantar Media phối hợp thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Số lượng mẫu tham gia là 1.500 gồm nam và nữ độ tuổi 15-54 có sử dụng Internet. Khảo sát thực hiện tại nội thành của các thành phố lớn là Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng và Cần Thơ trong hai tháng 1, 2.

Bài toán Marketing Online thời kì khủng hoảng

Hiện nay, khi mà nền kinh tế toàn cầu nói chung đang rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và Việt Nam  - một nền kinh tế mới đang phát triển bị ảnh hưởng bởi những biến đổi đó. Vậy các doanh nghiệp Việt Nam đã làm gì để chống đỡ cuộc khủng hoảng này?  

Việc kinh doanh ngày càng khó khăn hơn, trì trệ hơn và cạnh tranh cũng gay gắt hơn là những gì mà mọi doanh nghiệp nhận thấy rõ nhất thông qua: doanh số bán ra; sự gia tăng cho các hoạt động xúc tiến bán, sự cạnh tranh và sự rút lui của khá nhiều các doanh nghiệp trong ngành......Và toàn cảnh mà chúng ta cảm nhận được đó là cảnh xô lấn, bon chen, để tìm ra đường sống cho doanh nghiệp mình. Theo tôi nhận thấy rằng hiện nay các hình thức Marketing online đang được các doanh nghiệp Việt Nam khai thác ồ ạt ví dụ như Google Adwords, SEO, Email Marketing, Social Marketing,... Chính vì thế cung - cầu trong nước đối với hình thức này đang rơi vào tình trạng hỗn loạn chung. Có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ - và cũng nhiều doanh nghiệp quan tâm, cung - cầu cùng gia tăng nhưng khá nhiều các doanh nghiệp không muốn sử dụng dịch vụ qua các Agency mà luôn muốn tự chạy ( bây giờ có phải thời kì bao cấp nữa đâu???chẳng thể hiểu nổi).Không tin tưởng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, các công ty lại muốn tự tìm nguồn nhân lực cho riêng doanh nghiệp mình. Kéo theo đó là một cơn sốt nguồn lực vừa có kỹ năng về cả Marketing và vừa có thể tự làm Google Adwords, SEO, Email Marketing,..đang dần lên cao. Tôi là một ví dụ trong đó, là một sinh viên chuyên ngành Marketing thương mại vừa mới ra trường, tôi đã có kinh nghiệm đi làm tại một công ty quảng cáo internet cung cấp các sản phẩm dịch vụ Marketing online nói trên. Tôi hiểu biết về các sản phẩm đó nhưng tôi lại không thể tự mình làm những hình thức quảng cáo này. Vấn đề có phải nằm ở  nguồn nhân lực Marketing yếu kém?

Khá nhiều các doanh nghiệp nhỏ hiện nay luôn có nhu cầu cần tìm kiếm một nhân viên Marketing có đầy đủ các kỹ năng và kiến thức để lên kế hoạch làm Marketing cho họ, lại vừa muốn những nhân viên này có thể tự làm SEO, Google Adwords, Social Marketing,...Có vô lý không nhỉ? Vậy là tôi đã khuyên họ nên đăng thông báo tuyển dụng tuyển người có kiến thức IT hơn là tuyển một nhân viên Marketing.Vì tôi nghĩ rằng nếu đã như thế thì tại sao lại phải chuyên môn hóa công việc làm gì? và khi một người cùng lúc làm 2 chuyên môn thì liệu có hiệu quả hơn là thuê ngoài? Và thực tế khi tôi làm việc tại công ty quảng cáo internet trước thì tôi cũng hiểu một chút rằng: Để các hình thức Marketing online mới này được hiệu quả thì bạn phải chăm sóc nó thường xuyên và nếu bạn chỉ lơ với nó trong một khoảng thời gian ngắn, hoặc không có kinh nghiệm trong việc bid giá thì hiệu quả sẽ không được cao và chỉ gây ra việc lãng phí ngân sách vào nó mà thôi. Nói như vậy nhưng tôi cũng khuyên các Marketer nên trang bị cho mình thêm các kiến thức mới bằng cách đăng ký học một khóa học làm Marketing Online. Nó khá tốt để bạn hoàn thiện bản thân, đồng thời cũng sẽ không bị các Agency chém gió hay thực hiện các chiến dịch Marketing không hiệu quả khi mà công ty bạn muốn thuê ngoài dịch vụ này. 
Kinh doanh đã khó thì nay càng thêm khốc liệt hơn. Các doanh nghiệp nhỏ đã vậy, còn các ông lớn thì sao? Cũng theo xu hướng đó, tuy nhiên các doanh nghiệp này lại chú tâm tới việc thuê dịch vụ ngoài hơn vì họ không bị bó buộc ngân sách, hơn nữa ngân sách của họ cũng khá lớn cho một lần chạy chiến dịch. Hoặc là các công ty này tự lập ra một phòng chuyên môn phụ trách riêng công việc này. 

Đến thời điểm này thì các doanh nghiệp vẫn đang đi tìm lời giải cho bài toán Marketing Online của mình.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Marketing hiện đại - thách thức đặt ra cho nhiều doanh nghiệp

  




 Xu hướng marketing online năm 2012 - Marketing hiện đại ra đời


Marketing hiện đại ra đời, để đáp ứng được những nhu cầu của khách hàng. Ngày nay, khách hàng có quyền lực hơn bao giờ hết, họ có thể kiểm soát việc sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ ở đâu, vào lúc nào, như thế nào, đồng nghĩa với nó là họ sẽ có nhiều sự lựa chọn, họ ít khi trung thành với một nhãn hiệu nào đó.

1. Ngân sách dành cho marketing sẽ tiếp tục chảy phần lớn vào marketing online



Khách hàng ngày càng có xu hướng tìm kiếm thông tin sản phẩm trên mạng để so sánh cũng như quyết định có nên mua sản phẩm hay dịch vụ đó không. Do đó, các nhà marketing chuyên nghiệp cần thấy trước triển vọng tươi sáng mà marketing điện tử có thể mang lại. Các kênh marketing điện tử có thể đến được với đối tượng khán giả nhất định với giá rất rẻ và phải chăng. Và chúng ta cũng có thể thấy trước được sự tiếp tục sụt giảm của các phương tiện truyền thông truyền thống. Sự suy thoái của các phương tiện truyền thông truyền thống càng thúc đẩy sự phát triển các kênh, quá trình marketing mới cũng như giảm bớt gánh nặng cho ngân sách marketing. Các công ty nên chuyển đổi hình thức kinh doanh để tăng khả năng marketing điện tử.


2. Kỷ nguyên mới của marketing trên di động bắt đầu

Cùng với sự phát triển của giải pháp marketing truyền thông xã hội, sự hứng thú với xu hướng marketing trên di động đang bùng nổ theo sát sự thành công của thế hệ điện thoại thông minh: Iphone và Ipad của Apple, hệ điều hành Android của Google. Điện thoại thông minh ngày càng thu hút nhiều người sử dụng do đó marketing trên di động được ví còn phát triển nhanh hơn các tin nhắn điện thoại. Duyệt mail, lướt web trên di động cùng các phần mềm ứng dụng được xem là những công cụ để tiến hành marketing trên di động. Chính sự kết hợp của các công cụ mới, sóng nhanh hơn và công nghệ định vị toàn cầu là bàn đạp vững chắc cho những thay đổi quan trọng hơn.



3. Phương tiện marketing xã hội đang ngày càng phát triển
Những người hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực marketing đã dần nhận ra rằng chúng ta đang ở giữa một cuộc chuyển giao quan trọng trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội cho mục đích marketing. Trong một vài năm qua, các nhà marketing đã thử nghiệm các phương thức truyền thông xã hội và trong năm 2011, những nhà marketing hàng đầu sẽ áp dụng các phương thức marketing xã hội này vào các chiến lược marketing một cách đầy đủ. Một quá trình marketing truyền thông xã hội sẽ theo sát các bước sau: 1. Nghiên cứu; 2. Lên kế hoạch; 3. Cam kết; 4. Đánh giá kết quả.

4. Các video trên mạng xã hội được sử dụng như là công cụ thu hút sự chú ý
Không ai có thể phủ nhận rằng các video là một cách thức hiệu quả đế kết nối mọi người online lại. Cho tới trước khi Internet xuất hiện, cách duy nhất để truyền tải thông điệp trong video của bạn là trả tiền quảng cáo trên Tv. Ngày nay, các trang mạng xã hội và video đã được gắn kết với nhau. Đưa các video quảng cáo lên các trang mạng xã hội là một cách khôn ngoan để ghi dấu hình ảnh của sản phẩm vào trí nhớ của người xem. Các video quảng cáo không chỉ tăng cường mối liên kết với các khách hàng sẵn có mà còn khiến các khách hàng tiềm năng hiểu rõ hơn về sản phẩm, dịch vụ. Do đó, một xu hướng nổi bật của năm 2011 là tập trung nâng cao hiệu quả sử dụng của marketing qua video.

5. Các đánh giá của công cụ tìm kiếm trở nên phức tạp hơn
Khách hàng thường sử dụng các công cụ tìm kiếm như là cách đơn giản nhất để tìm thông tin về một sản phẩm hay dịch vụ. Mặc dù vậy, hiện nay ngoài Google, còn có sự xuất hiện của Bing trên thị trường Mỹ hay Baidu của Trung Quốc và Yandex của Nga. Bên cạnh đó, các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter cũng trở thành một nguồn quan trọng để tìm kiếm thông tin. Do đó, nhiệm vụ của các nhà marketing chuyên nghiệp là làm sao sản phẩm của họ luôn xuất hiện đầu tiên trên trang tìm kiếm càng trở nên phức tạp hơn.